Cập nhật:
Máy chạy bình thường nhiều tháng, phòng máy vừa sửa xong, và từ đó nước yếu hẳn. Phản xạ thường gặp là kết luận máy đã yếu và tính chuyện đổi. Nhưng một tổ bơm chạy tốt rồi yếu ngay sau khi có can thiệp vào phòng máy thì nguyên nhân nằm ở can thiệp đó nhiều hơn là ở máy. Vấn đề là phải chứng minh, và muốn chứng minh thì phải có số.

Mục lục
Ba nhóm nguyên nhân, phân biệt được bằng số
| Nhóm | Dấu hiệu kèm theo | Số cần đo |
|---|---|---|
| Đường hút bị thay đổi | Máy ồn hơn, áp đầu đẩy dao động | Áp đầu hút, dòng |
| Đường đẩy bị thay đổi | Áp đầu đẩy cao hơn trước, lưu lượng giảm | Áp đầu đẩy, dòng |
| Máy thực sự suy giảm | Áp và lưu lượng cùng giảm, dòng giảm theo | Cả ba, so mốc ban đầu |
Nhóm 1 và 2 sửa được bằng cách chỉnh đường ống. Nhóm 3 mới là chuyện của máy. Ba nhóm cho ba bộ số khác nhau nên phân biệt được, nhưng chỉ khi có đo.
Bộ dữ liệu tối thiểu cần ghi
- Dòng từng pha khi máy chạy ổn định ở chế độ vận hành thật.
- Áp suất đầu đẩy tại đồng hồ gần cổ đẩy.
- Áp suất đầu hút nếu có đồng hồ; nếu không, ghi mức nước bể và cao độ đặt máy.
- Điện áp ba pha tại tủ khi máy đang chạy.
- Vị trí van đẩy: mở hết hay mở một phần.
- Lưu lượng ước lượng, ví dụ thời gian đầy một thể tích đã biết.
- Tiếng và rung: ghi mô tả, có thay đổi so với trước không.
- Nhiệt vỏ động cơ sau ba mươi phút chạy.
So bộ số này với bộ số ghi lúc chạy đầu. Nếu không có bộ số lúc chạy đầu thì đây là lúc bắt đầu có, và bài học cho tổ máy tiếp theo.
Cần tư vấn chọn máy cho đúng việc? Gọi hoặc nhắn Zalo để được hỗ trợ.
⚠️ Điều kiện dừng
Đừng đổi máy khi chưa xem lại những gì đã thay đổi trong đợt sửa phòng. Rất nhiều trường hợp là một đoạn ống bị dời, một van bị lắp ngược chiều, một rọ hút bị nghẹt trong lúc thi công, hoặc một đoạn ống mới tạo túi khí. Đổi máy trong tình huống đó là mua một máy mới để chạy vào đúng chỗ nghẽn cũ.
Bảng đối chiếu: những gì đợt sửa có thể đã đụng vào
| Hạng mục | Câu hỏi cần trả lời |
|---|---|
| Đường hút | Có dời, nối thêm, đổi cỡ ống không |
| Van trên đường hút | Có tháo ra lắp lại không, lắp đúng chiều chưa |
| Rọ hút | Có bị rác thi công bám không |
| Mức nước bể cấp | Chế độ vận hành bể có đổi không |
| Đường đẩy | Có thêm co, thêm van, thêm nhánh không |
| Van một chiều | Có kẹt hoặc lắp ngược không |
| Giá đỡ ống | Có bị tháo bỏ làm ống tì lên bơm không |
| Tủ điện | Có đổi thiết bị bảo vệ, đổi ngưỡng đặt không |
| Nguồn điện | Có thêm phụ tải mới trên cùng tuyến không |
Dòng cuối hay bị bỏ sót: đợt sửa thêm phụ tải làm sụt áp lúc cao điểm, và bơm chạy dưới điện áp định mức thì cho ít nước hơn.
Trình tự kiểm, từ rẻ tới đắt
- Đọc lại hồ sơ đợt sửa và hỏi đội thi công đã đụng vào gì.
- Đo điện áp tại tủ khi máy chạy.
- Nhìn dọc đường hút, tìm chỗ cao hơn cổ hút và chỗ nối mới.
- Kiểm rọ hút và van hút.
- Mồi lại và xả khí, xem có khí ra nhiều bất thường không.
- Đo áp hai đầu và dòng, so với mốc.
- Kiểm van một chiều trên đường đẩy.
- Chỉ khi bảy bước trên không ra kết quả thì mới mở máy kiểm cánh và vành chắn.
Bảy bước đầu làm được trong một buổi và không cần dừng dài. Bước tám mới là bước tốn kém.
Khi nào kết luận được là máy suy giảm
Kết luận này chỉ vững khi có đủ ba điều:
- Đường hút và đường đẩy đã được kiểm và loại trừ.
- Điện áp tại tủ nằm trong dải cho phép.
- Dòng đo được thấp hơn mốc ban đầu trong khi áp đầu đẩy cũng thấp hơn.
Dòng thấp mà áp thấp là dấu hiệu máy không còn tạo được cột áp như trước, thường do mòn cánh hoặc mòn vành chắn. Dòng cao mà áp thấp lại là chuyện khác và cần hướng kiểm khác.
Ví dụ có ghi rõ giả định
Giả định: sau đợt sửa, nước yếu rõ, máy kêu to hơn, và đồng hồ áp đầu đẩy dao động thay vì đứng yên.
Cách đọc: áp dao động kèm tiếng to là dấu hiệu quen thuộc của khí hoặc điều kiện đầu hút xấu, không phải dấu hiệu mòn cánh. Mòn cánh cho áp thấp nhưng ổn định. Vậy nên xem lại đường hút trước: chỗ nối mới, túi khí, rọ nghẹt, van lắp ngược. Nếu xử lý xong mà áp về ổn định thì máy không có vấn đề gì. Tình huống là giả định để minh hoạ, không phải trường hợp của công trình bạn.

Câu hỏi hay gặp
Không có đồng hồ áp thì đo bằng gì? Lắp tạm một đồng hồ tại điểm trích gần cổ đẩy. Chi phí nhỏ và con số thu được quyết định cả hướng xử lý.
Máy chạy nóng hơn trước có phải dấu hiệu hỏng không? Có thể là điện áp thấp, có thể là chạy lệch điểm làm việc, có thể là thông gió phòng máy đã đổi sau đợt sửa. Cần đo dòng và điện áp mới nói được.
Có nên tăng công suất máy cho chắc không? Không nên trước khi biết nguyên nhân. Nếu nghẽn nằm ở đường ống thì máy lớn hơn chủ yếu làm tăng tiền điện và tăng rủi ro xâm thực.
Bao lâu nên đo lại bộ số một lần? Định kỳ theo chu kỳ bảo trì của nhà máy, và bắt buộc đo lại sau mỗi lần có can thiệp vào phòng máy hoặc đường ống.
Cần hỗ trợ
Gửi: nhãn máy, bộ số đo được gồm dòng ba pha, áp hai đầu, điện áp tại tủ, mô tả những gì đợt sửa đã thay đổi, ảnh đường hút và đường đẩy sau khi sửa. Bộ phận kỹ thuật đối chiếu với mốc ban đầu và chỉ ra nên kiểm tiếp chỗ nào trước khi tính đến việc đổi máy.
Xem dải máy tại bơm trục đứng và bơm công nghiệp.
Liên hệ: Phong — 0359395912 (gọi hoặc Zalo cùng số). Công ty TNHH Thương mại và Công nghiệp Trung Kiên.
