Máy sục khí Root Perotac Chính Hãng, Giá Tốt
- Lưu Lượng: 1200m³/h Cột Áp: 8m
- Lưu Lượng: 1920m³/h Cột Áp: 8m
- Lưu Lượng: 1380m³/h Cột Áp: 8m
- Lưu Lượng: 540m³/h Cột Áp: 8m
- Lưu Lượng: 300m³/h Cột Áp: 8m
- Lưu Lượng: 180m³/h Cột Áp: 8m
Hiển thị tất cả 6 kết quảĐã sắp xếp theo mới nhất
Máy sục khí kiểu rễ Perotac là hàng Đài Loan, bảo hành 1 năm. Kho Trung Kiên có 6 mã dòng RL, công suất từ 5,5 tới 45 kW. Đây là nhóm máy thổi khí cho áp cao hơn nhóm con sò, dùng cho bể sâu, hệ xử lý nước thải công nghiệp và tuyến khí dài có nhiều nhánh.
| Mã | Công suất | Hợp việc gì | KHÔNG hợp việc gì |
|---|---|---|---|
| RL80 | 15 kW | Bể xử lý nhà xưởng cỡ vừa, tuyến khí ngắn | Hệ nhiều bể chạy cùng lúc |
| RL100 | 22 kW | Bể sâu, tuyến khí dài vài nhánh | Bể nhỏ chỉ cần ít khí |
| RL125 | 37 kW | Trạm xử lý tập trung, nhiều đĩa phân phối khí | Hệ chưa có bình tiêu âm và van an toàn |
| RL150 | 45 kW | Trạm lớn, chạy liên tục theo ca | Nơi nguồn điện yếu, hay tụt pha |
Hai nhóm này khác nhau ở nguyên lý nén chứ không chỉ khác ở cỡ. Máy con sò dùng cánh quay ly tâm, cho nhiều khí ở áp thấp, gọn và rẻ khi bể nông. Máy kiểu rễ dùng hai rotor ăn khớp đẩy khí theo thể tích, giữ được lưu lượng gần như không đổi khi áp tăng lên.
Vì vậy bể càng sâu thì khoảng cách giữa hai nhóm càng rõ. Ở bể nông, máy con sò làm được việc với chi phí thấp hơn. Ở bể sâu hoặc tuyến khí dài, máy con sò tụt lưu lượng nhanh còn máy kiểu rễ vẫn giữ được lượng khí cần, nên chọn nhầm nhóm là chọn nhầm nguyên lý.
Hai số quyết định là lượng khí cần mỗi phút và áp phải thắng. Áp phải thắng gồm chiều sâu ngập của đĩa phân phối khí cộng với tổn thất trên tuyến ống và tổn thất qua chính đĩa phân phối. Rất nhiều hệ tính thiếu hai phần tổn thất này nên máy mua về thấy yếu hơn dự tính.
Lượng khí thì tính theo thiết kế xử lý, thường do đơn vị thiết kế trạm đưa ra. Nếu khách chưa có số này, cách làm thay thế là gửi thể tích bể, chiều sâu nước và số lượng đĩa phân phối khí đang lắp, kho sẽ khoanh vùng mã rồi trao đổi tiếp cho khớp thiết kế.
Máy kiểu rễ đẩy khí theo thể tích, nghĩa là ống bị bịt thì áp tăng cho tới khi có thứ gì đó hỏng. Van an toàn đặt trên đường đẩy là thứ xả bớt áp trước khi tới ngưỡng đó. Đây không phải phụ kiện tùy chọn mà là phần bắt buộc của hệ, thiếu nó thì rủi ro dồn hết vào máy.
Bình tiêu âm làm việc khác: máy kiểu rễ đẩy theo nhịp nên tiếng ồn và xung áp rất rõ. Bình tiêu âm ở đầu vào và đầu ra vừa giảm ồn cho nhà xưởng, vừa giảm xung truyền vào tuyến ống. Bỏ bình tiêu âm thì mối hàn trên tuyến ống hay nứt sau vài tháng chạy liên tục.
Hai buồng dầu ở hai đầu trục là chỗ phải kiểm theo lịch. Dầu cạn hoặc dầu quá hạn làm bánh răng đồng tốc mòn, hai rotor lệch khớp rồi chạm nhau, và đó là hỏng nặng. Nhìn mức dầu qua mắt thăm mỗi ca chạy là việc mất vài giây nhưng tránh được hỏng lớn.
Dây curoa cần kiểm độ căng theo tuần. Dây chùng làm trượt, lưu lượng khí tụt mà máy vẫn kêu bình thường nên rất dễ bỏ qua. Dây quá căng lại làm mòn ổ trục nhanh. Cả hai trạng thái đều dẫn tới cùng một triệu chứng là bể sục yếu dần, nên phải kiểm cả hai chứ không đoán.
Nhóm này dùng điện ba pha và có dòng khởi động lớn, nên tủ điện phải tính đúng và nên dùng khởi động sao tam giác hoặc khởi động mềm. Đóng thẳng lưới với máy cỡ lớn dễ làm sụt áp cả xưởng và làm giật tuyến ống khí.
Bảo vệ mất pha là bắt buộc. Mất một pha mà máy vẫn chạy thì cuộn dây nóng rất nhanh, và đó là nguyên nhân cháy động cơ hay gặp ở các trạm dùng nguồn điện không ổn định. Phần bảo vệ này nằm ngoài máy nên hỏng do thiếu nó không thuộc diện bảo hành.
Chừa lối vào cả bốn phía để còn thay dầu, căng lại dây curoa và tháo lọc gió mà không phải kéo máy ra khỏi vị trí. Máy kiểu rễ cần bảo dưỡng theo lịch nên chỗ đặt phải thao tác được, không nên nhét vào góc tường hoặc kê sát cột nhà xưởng.
Lọc gió đầu vào cần đặt ở nơi ít bụi và phải thay theo lịch. Bụi lọt qua lọc đi thẳng vào khe giữa hai rotor, làm xước bề mặt rồi khe hở rộng dần, máy tụt lưu lượng mà nhìn bên ngoài vẫn chạy đều. Đây là hỏng ngầm khó phát hiện nếu không đo lưu lượng định kỳ.
Perotac là hàng Đài Loan, bảo hành 1 năm kể từ ngày xuất hóa đơn. Có CO CQ theo lô cho khách làm hồ sơ thầu, giá chưa gồm VAT 10 phần trăm. Khách cần hóa đơn thì báo trước lúc chốt đơn để kho xuất kèm cho đủ bộ.
Gửi thể tích bể, chiều sâu nước và số đĩa phân phối khí qua Zalo 0359 395 912 để Phong khoanh vùng mã. Kho Trung Kiên tại 34A, ngõ 53 Nguyễn Khoái, Hà Nội. Nội thành giao trong ngày, tỉnh gửi xe khách.